Anh hùng Cao Văn Trung và những năm tháng kháng chiến khốc liệt ở Bến Tre

29/06/2016 - 06:38

Ở Bến Tre hiện nay có hàng nghìn Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có 97 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Những con số ấn tượng ghi dấu sự cống hiến của nhân dân Bến Tre trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cũng như sự khốc liệt của chiến tranh từng diễn ra nơi mảnh đất này. Nhưng những con số đó chưa nói lên tất cả, các bạn phải thực sự được nghe chính những người anh hùng như anh hùng Cao Văn Trung, bí danh Lê Hùng kể về năm tháng chiến tranh, mới hình dung hết được sự khốc liệt của nó.

 

13 tuổi tham gia cách mạng

Cao Văn Trung tham gia cách mạng từ năm 13 tuổi, 18 tuổi chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh. Ông là người đã tham gia hàng chục trận đánh, lập nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc. Ngày 06/6/1976, ông vinh dự được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong ngôi nhà mái bằng vững chắc, giữa bạt ngàn cây dừa ở ấp Tân Quới Đông, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Cao Văn Trung kể cho chúng tôi nghe con đường đưa ông đến với cách mạng, đối với ông, theo cách mạng như một điều tất yếu.

Anh hùng lực lượng vũ trang Cao Văn Trung trao đổi với phóng viên Radiocand

“Cha tôi là bộ đội hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, mẹ tôi là cán bộ Đảng viên, trong đánh Mỹ. Vì đó mà hai anh em tôi lớn lên đều đi thoát ly hết. Tôi tham gia cách mạng hồi nhỏ lắm. hồi năm 1961, 1962 tôi tham gia ở địa phương. Rồi 1965 tôi đi bộ đội, tôi nhỏ quá nên tôi rớt, rớt rồi qua 1966 tôi mới đi luôn”- Anh hùng lực lượng vũ trang Cao Văn Trung kể với chúng tôi.

Những năm tháng ác liệt

Năm 1960, phong trào đồng khởi đã bùng nổ sớm nhất ở Bến Tre, sau đó kéo theo một loạt phong trào đồng khởi của nhân dân toàn miền Nam, tạo một khí thế sục sôi trong cả nước. Bởi vậy, Bến Tre còn có một tên gọi khác, là: Quê hương Đồng Khởi. Nhưng, sau Đồng Khởi năm 1960, quân và dân tỉnh Bến Tre nói riêng, cũng như toàn miền Nam nói chung lại phải liên tục đương đầu với các cuộc phản công của Mỹ nguỵ.

Điển hình như chiến lược 2 gọng kềm “tìm diệt và bình định” năm 1966. Với mưu toan đảo lộn tình hình, thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho đế quốc Mỹ, ngay từ giữa 1965, địch đã cho xây dựng thêm nhiều tiểu đoàn chủ lực, xây dựng đội ngũ nguỵ quân, tăng cường trang bị vũ khí tối tân để đối phó với quân ta. Số cố vấn Mỹ cũng theo đó tăng lên con số gần 300 tên ở Bến Tre.

Tại đây, chúng củng cố các tiểu khu để lập vành đai bảo vệ, chia cắt chiến trường hai huyện Châu Thành và Mỏ Cày – chiến trường được Mỹ nguỵ coi là địa bàn trọng yếu của cộng sản. Năm ấy, Cao Văn Trung đã 18 tuổi, anh hăng hái khi được gia nhập chính thức vào lực lượng an ninh vũ trang tỉnh Bến Tre. Đồng thời, được cách mạng đặt mật danh Lê Hùng. Nhiệm vụ của lực lượng an ninh vũ trang ngày ấy là giữ vững an ninh, phối hợp với các lực lượng trong và ngoài thành thông tin nhanh nhất, đồng thời, tấn công địch đột xuất, bất ngờ khi có lệnh.

Đội an ninh vũ trang của đồng chí Lê Hùng, đã dũng cảm, kiên cường, xử lý linh hoạt, kịp thời các tình huống, góp phần cùng các đơn vị ở Giồng Trôm, Thạch Phú, Châu Thành... và các tỉnh thành phía Nam bám đánh địch làm nên chiến thắng Tết Mậu Thân, năm 1968. 

Năm Mậu Thân, 1968, Cao Văn Trung qua đơn vị trinh sát, hoạt động đóng chân tại địa bàn nên không hành quân nhiều. Trong hai năm, tổ công tác của ông dù chỉ 2-3 đồng chí nhưng cũng diệt địch rất nhiều. Những năm 1969 và 1970 là hai năm ác liệt nhất, ông đều giành danh hiệu chiến sĩ thi đua của tỉnh và được vinh dự kết nạp thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1969.

Bến Tre những năm 1970

Năm 1969, sở dĩ là năm ác liệt nhất của cuộc chiến đấu của nhân dân ở Bến Tre, bởi thời điểm đó, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Ở Bến Tre, chúng ráo riết đôn quân, củng cố các đơn vị bị ta đánh thiệt hại nặng trong năm 1968, đồng thời xây dựng thêm nhiều đơn vị mới. Chỉ trong 3 tháng đầu năm 1969, chúng đã bắt hơn 1.300 thanh niên đi lính.

Cuối năm, số lính Mỹ nguỵ lên tới gần 30 nghìn tên. Chúng đặt hẳn hai tiểu đoàn làm nhiệm vụ cơ động ứng chiến trong toàn tỉnh; ngăn chặn, phong toả, sự đi lại của nhân dân giữa các vùng hòng triệt nguồn tiếp tế của các lực lượng cách mạng. Các lực lượng của chúng đều được trang bị, cấp súng đạn từ đầu đến chân.

Trước sự tăng cường lực lượng của địch, đơn vị trinh sát vũ trang tại địa phương càng phải gánh trọng trách nặng nề hơn. Bên cạnh việc phải nắm chắc mọi di biến động của địch trên địa bàn, các đơn vị trinh sát còn cần phải xây dựng căn cứ bí mật trong nhân dân; đồng thời phải tham gia đánh giặc, nhưng buộc phải đảm bảo yếu tố nhanh, bất ngờ và hoàn toàn bí mật.

Ông Cao Văn Trung chia sẻ: Nếu mà kể từng trận tôi cũng kể được. Từ trận ngày 13/5/1969, Mỹ càn tại Phước Thạnh, lúc đó nó phát hiện cơ quan của tôi đang đóng, nên nó rà đến, trong lúc nó đánh, nó bắn anh em. Trong trường hợp đó tôi xử lý là bắn nó để hút đạn của nó đặng anh em ra khỏi hầm được. Lúc đó tôi bắn rớt một chiếc máy bay tại chỗ, nên những chiếc khác nó biết chính xác chỗ nó bắn riết sập hầm luôn, lúc đó tôi bị điếc luôn đến tận bây giờ.

Hai đêm sau, vô trong thị xã,hoạt động để nắm đánh, lúc có 4 thằng lính đang đi ngang, có hai chiến sĩ thấy lính không dám bắn, nó chạy kiếm tôi. Nên tôi phải chạy dí theo bắn. Chứ không để nó vào nó phát hiện cơ sở mình. Bữa đó tôi bắn chết ba thằng lính...

Từ giữa năm 1970, địch điều động về đóng chốt ở xã Phú An Hòa một tiểu đội thám kích và gần hai mươi tên cán bộ bình định. Hàng ngày, chúng tỏa xuống các ấp nắm tình hình, bắt bớ, tuyên truyền, hăm dọa hòng ngăn chặn nhân dân ủng hộ cách mạng. Đêm đêm, chúng tuần tra, phục kích dọc các tuyến lộ số 6 (Bến Tre đi Mỹ Tho) và lộ số 7 (Châu Thành đi Bình Đại), gây không ít khó khăn cho ta. Trước tình hình đó, lãnh đạo Ban An ninh tỉnh chỉ đạo cho đại đội Trinh sát vũ trang tỉnh (C280) phải nhổ tận gốc “cái gai” này hoặc chí ít cũng làm tê liệt sức chiến đấu của chúng.

Anh hùng Lê Hùng ghi lại những trận đánh đã trải qua (Ảnh: Mai Hoa)

Nhận được lệnh của cấp trên, đồng chí Lê Lộng (Tư Nhơn) - Chính trị viên đại đội chỉ đạo cho Trung đội 2 phân công lực lượng chuẩn bị phương án đánh. Do bọn chúng đóng quân ở khu nhà việc của xã, các vườn dừa xung quanh đã bị khai quang chỉ còn cỏ tranh, bao bọc nhà việc là mấy lớp rào kẽm gai bùng nhùng và các bãi mìn nên việc lên kế hoạch phải hết sức tỉ mỉ, thận trọng. Thời điểm này, Lê Hùng đang là Trung đội phó Trung đội trinh sát vũ trang số 2. Anh cùng đồng chí Bảy Quyết, Trung đội trưởng và đồng chí Hoàng Sơn đi điều nghiên thực địa, dưới sự dẫn đường của một cán bộ an ninh xã, tiếp cận mục tiêu chừng 300m để quan sát và về vẽ bản đồ.

Chiều ngày 16-9-1970, tại nhà bà Hai Đền ở ấp 1, xã Phước Thạnh, Trung đội 2 họp triển khai kế hoạch đánh nhà việc xã Phú An Hòa. 

Sau khi triển khai phương án đánh và được sự đồng ý của đồng chí Chính trị viên, lực lượng làm nhiệm vụ lập tức xuất phát, gồm 2 tổ: Tổ tấn công, có 3 đồng chí là: Lê Hùng (làm nhiệm vụ chỉ huy, dò đường, trang bị súng K54), Hoàng Sơn trang bị AK và Hoàng Đức trang bị súng B40. Tổ yểm trợ được trang bị súng CKC và 1 khẩu AR15. Tổ yểm trợ có nhiệm vụ ém quân ở khu vực Giồng Da để cảnh giới đề phòng bọn lính từ Chi khu Trúc Giang kéo xuống, lập tức đánh chặn để anh em ở trong rút an toàn.

Lội bộ hơn 3 cây số đường vườn, đến gần mục tiêu thì trời đã chạng vạng tối. Lê Hùng lấy cọng dừa được chuốt sạch lá từ trước để rà mìn và dẫn đường cho anh em bò vào áp sát mục tiêu. Lúc này còn sớm, bọn lính chưa đi tuần tra, còn tập trung rất đông bên trong, cười nói rôm rả. Khi thấy anh em đã vào vị trí sẵn sàng, Lê Hùng ra lệnh nổ súng.

Hoàng Đức bắn quả B40 đầu tiên trúng ngay giữa mục tiêu, Hoàng Sơn bắn AK, bọn lính kêu la thất thanh nhưng ngay lập tức chúng cho nổ liên tiếp 4-5 quả mìn và bắn trả lại một cách yếu ớt. Nhờ núp dưới mương nước nên anh em vẫn an toàn. Sau đó Lê Hùng lắp quả B40 thứ hai cho Hoàng Đức bắn bồi tiếp. Lúc này, trong nhà việc không còn tiếng súng bắn trả.

Thực hiện xong trận đánh chớp nhoáng, đoán được địch sẽ cho bắn pháo chặn đường rút của ta, Lê Hùng quyết định cho anh em đi ngược về hướng Chi khu Trúc Giang, sau đó ém quân trong các lùm trâm bầu ven lộ số 7. Không đầy năm phút sau, địch cho pháo binh từ sân bay Tân Thành (Bến Tre) và Bình Đức (Mỹ Tho) bắn hơn một trăm quả xuống khu vực ấp Giồng Da; đồng thời cho 2 trực thăng chiến đấu từ Mỹ Tho sang, vừa phóng pháo vừa rọi đèn pha sục sạo tìm đối phương. Hơn ba mươi phút sau, khi địch ngưng bắn phá, Lê Hùng cho anh em đi vòng xuống theo ngã cầu Quao trở về Phước Thạnh an toàn.

Trận này, ta diệt 11 tên thám kích và bình định, làm bị thương 8 tên khác. Sau trận Phú An Hoà, bọn địch ở đây co cụm một thời gian dài, không dám hung hăng hoạt động như trước. Riêng ba đồng chí trực tiếp tham gia trận đánh được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt ngụy”.

Anh hùng Cao Văn Trung bảo: Cái khó là ông từ nhỏ đến lớn không được ở thành, nên phải tìm những người quen xây dựng được cơ sở. Đánh địch thì ông không sợ chết, nhưng sợ hơn cả là phải tìm cơ sở. Nhiều lần, ông cùng đồng đội được cơ sở của mình cứu sống.

“Bến Tre mười mấy ngàn liệt sỹ…”

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Cao Văn Trung đã trực tiếp tham gia chiến đấu 25 trận, diệt và làm bị thương 124 tên, trong đó có 29 tên ác ôn, nhiều cố vấn Mỹ và sĩ quan cao cấp ngụy, bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 4 xe Jeep và đưa đón cán bộ 24 lần đi công tác bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Ông bảo, hồi đó đi đánh giặc có lương bổng gì đâu, thiếu thốn trăm bể, mọi thứ đều phải tự túc hoặc nhờ nhân dân giúp đỡ, nhưng được cái là anh em rất dũng cảm, rất thương yêu nhau, bảo vệ nhau, thậm chí sẵn sàng đỡ đạn cho nhau. Chính vì thế mới tạo thành sức mạnh đánh thắng giặc, chứ vũ khí mình đâu có bằng tụi nó.

“Nói đúng là hồi đó không có sợ gì hết trơn. Vì tôi nói nay không chết, mai cũng chết. Trước sau cũng chết. Mà sống mai, còn tới nay là dữ lắm. Tôi dám nói, nghĩa trang Phước Thạnh không có ngày nào không khiêng anh em. Bến Tre ba mươi mấy ngàn liệt sĩ mà. Cái thời đó mình có thể chỉ hai ba trăm ngàn dân mà hy sinh đến ba mươi mấy ngàn dân. Trong đó nguyên ấp này chưa tới 100 gia đình mà có tới 65 liệt sĩ. Nhà nào cũng một người, hai người, ít có nhà nào khỏi. Tính mẹ Việt Nam anh hùng cũng 60 bà, hai con, ba con...” – Anh hùng Cao Văn Trung

Cuộc sống của người anh hùng

Bước ra khỏi cuộc chiến, bên cạnh niềm vui thống nhất hai miền Nam – Bắc, người dân Bến Tre lại đối mặt với cuộc chiến chống lại đói nghèo.

Năm 1982, khi đang công tác tại Phòng tổ chức cán bộ, Công an tỉnh Bến Tre, do tình trạng sức khoẻ suy giảm, hậu quả của những lần bị thương trong những năm tháng chiến đấu ác liệt (trên người ông hiện giờ vẫn đang mang hàng trăm vết thương, trong đó còn hơn chục miếng đạn, pháo vẫn lưu lại trong người, còn vài mảnh lưu trong đầu. Tỷ lệ thương tật vĩnh viễn của ông được xác định là 62%). Ông được giải quyết chính sách cho nghỉ mất sức.

Trở về nhà với hai bàn tay trắng, không có đất canh tác, ông bắt đầu kiếm sống bằng nghề nuôi vịt thả đồng, hai vợ chồng lặn lội sống lay lắt hơn 20 năm trời. Nhờ viết tiết kiệm, chắt chiu từng đồng kiếm được, vợ chồng ông bắt đầu xây dựng cơ ngơi bằng việc mua vài công đất ruộng, rồi xẻ mương trồng mía, lên líp trồng dừa, thực hiện đúng phương châm “lấy ngắn nuôi dài”.

Anh hùng Cao Văn Trung tại Hội nghị biểu dương Người có với với cách mạng, Bộ Công an năm 2014

Lúc nào ông cũng tâm niệm, sống ở quê, làm nông dân mà không có đất, cũng giống như người lính ra mặt trận mà không có súng. Vì vậy, làm được bao nhiêu tiền, ông đều để dành mua đất. Tính tổng cộng, ông đã mua được 1,6ha, trong đó có 0,4ha trồng mía, hiện giao cho con trai út canh tác, còn vợ chồng ông cai quản 1,2 ha vườn dừa.

Vợ ông cũng chia sẻ với chúng tôi: Giờ nhắc lại chuyện cũ cũng giật mình, mà thôi, giờ cũng qua rồi. Hồi đó nghèo lắm, ở dưới coi vịt, nuôi vịt tối ngày, rồi mầm ruộng vậy đó. Bác sanh được 4 đứa, hai gái, hai trai. Mà ....cái thằng thứ ba nó bị bệnh, mắc vất vả lo làm, nuôi con rồi mần, rồi bỏ riết, xong nó bị teo cơ. Nó bệnh năm 13 tuổi, tới 16 tuổi nó mất.

Có một điều mà người anh hùng có nụ cười hiền hậu ấy luôn tự hào, là trong kháng chiến đã chiến thắng giắc ngoại xâm, giờ thời bình lại chiến thắng được giặc đói, giặc nghèo bằng chính đôi bàn tay lam lũ của hai vợ chồng. Như một câu mà ông đã nói: địch nó không giết tôi đâu, vì mặt tôi hiền lắm. Vậy nên, cũng không có lý do gì “giặc đói”, “giặc nghèo”, “giặc bệnh tật” làm khó được người anh hùng.

Trân trọng quá khứ để sống tốt hơn ở hiện tại

Giờ đây, mặc dù đã gần 70, đôi tay chai sần vì lam lũ, sức khoẻ cũng suy giảm nhiều, nhất là vào thời điểm giao mùa, các vết thương cũ lại hành hạ ông, nhưng ông vẫn dành thời gian đến thăm và giúp đỡ anh em, bạn bè, đồng đội cũ.

Ông bảo: Tôi giờ thì nói đúng cuộc sống cũng vững rồi, không thiếu gì nữa, dừa một tháng cũng mắc bán được 8 triệu, rẻ thì cũng được 6 triệu. Nói chung nhà cửa tôi cũng đâu có xin nhà nước. anh em lúc mình còn nghèo anh em cũng gợi ý. Nhưng tôi nói thôi, mình thì cũng khá hơn đồng đội. Có những đồng đội mình còn nghèo hơn.

Nguyên cả một mặt bàn, người anh hùng trải cho chúng tôi xem: Vài tấm ảnh của ông và đồng đội nay đã ố vàng, một cuốn nhật ký nho nhỏ ghi lại các trận đánh và những kỷ niệm trong thời lửa đạn, một mảnh vải đỏ, đen để tang Bác Hồ năm 1969, một bảng danh sách lý lịch trích ngang của anh em trong đơn vị trinh sát vũ trang ngày ấy... và rất nhiều, rất nhiều những bức ảnh ông ra Hà Nội, vào Sài Gòn cùng đồng đội nhận các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng, hay thậm chí chỉ là ảnh ông khoác vai một người đồng đội ngay tại sân nhà mình.... tất cả những thứ ấy ông lưu giữ cẩn thận. Người khác nhiều khi ít quan tâm, nhưng đối với ông, nó còn quý hơn vàng.

Anh hùng Cao Văn Trung bảo: đồng đội - họ không chỉ là đồng đội, đồng chí, mà còn là một phần cuộc đời ông, trước đây, hiện nay và mãi sau này vẫn vậy.

Thực hiện: Mai Hoa

Ý kiến bạn đọc:

Xem thêm bình luận

Viết bình luận